Thức uống có cồn

Thức uống có cồn
Thức uống có cồn

Một chút rượu có thể làm cho người ta trở nên tự tin hơn. Nên dùng một lượng vừa phải một số thức uống có cồn nhất định, đặc biệt là rượu vang đỏ (vào khoảng 1-2 ly một ngày), qua một thời gian dài có thể bảo vệ chống lại bệnh về động mạch vành của tim. Nhưng nhìn chung, đồ uống có cồn không có lợi cho sức khỏe.

– Cồn làm giãn các mạch máu, đặc biệt là các mạch máu bên ngoài. Từ đó mà người ta có cảm giác ấm khi uống. Tuy nhiên, khi đó việc điều chỉnh nhiệt lượng tự nhiên của cơ thể không còn hiệu lực nữa. Đồng thời, cồn lại có tác dụng gây mê vì thế mà giá lạnh không còn cảm nhận được. Do đó uống cồn trong mùa đông có thể dẩn đến lạnh cóng cho đến chết.

– Cồn kết hợp cùng với các thuốc uống và các loại chất gây nghiện khác cũng gây hại mạnh hơn và nhanh hơn là chỉ uống rượu đơn thuần.

– Cồn trong đồ uống có thể tác động đến hệ thống thần kinh và đặc biệt là lên não: góc nhìn bị thu hẹp lại và thời gian phản ứng chậm đi.

– Ước lượng vào khoảng 100.000 tế bào não sẽ bị giết chết khi uống một ly bia. Trong một cơn say rượu con số tế bào não chết đi có thể lên đến 10.000.000.

– Cồn cũng ảnh hưởng đến tình dục và khả năng có con. Cồn làm giảm tính tự kiềm chế và vì thế tăng hưng phấn tình dục. Nhưng những chất trong cồn thật ra rất có hại cho tinh hoàn và tinh trùng. Nam giới uống rượu trước khi sinh hoạt tình dục chẳng những làm tăng khả năng sẩy thai mà còn có thể ảnh hưởng đến việc phát triển của đứa con sinh ra. Người mẹ uống rượu trong thời gian mang thai dễ sinh ra các đứa trẻ có khuyết tật về trí tuệ.

Nồng độ của cồn trong máu được tính bằng miligam cồn có trong một gam máu (mg/g). Nồng độ của cồn trong hơi thở được tính bằng milligam cồn có trong một lít hơi thở. Tính chuyển đổi từ nồng độ cồn trong hơi thở sang nồng độ trong máu không chính xác hoàn toàn vì tỷ số thay đổi theo thời gian.

Thức uống có cồn

Biểu hiện của cơ thể theo nồng độ cồn trong máu

Sau khi uống rượu, cơ thể có những phản ứng qua nhiều giai đoạn tương ứng với lượng cồn trong máu (blood alcohol concentration – BAC). Cụ thể là:

BAC: 0,03-0,12%

– Dễ hưng phấn.
– Tự tin hơn, liều lĩnh hơn.
– Khả năng tập trung giảm.
– Mặt có thể đỏ ửng.
– Giảm khả năng phán đoán, nhận xét, thường nghĩ gì nói đó, thiếu suy xét.
– Gặp khó khăn trong trong các cử động khéo léo như viết, ký tên…

BAC: 0,09-0,25%

– Dễ bị kích động.
– Khó nhận thức hay ghi nhớ vấn đề.
– Phản ứng chậm.
– Dễ mất thăng bằng.
– Giảm sút các khả năng cảm giác như: nhìn mọi vật đều mờ ảo, nghe, nếm kém…

BAC: 0,18-0,30%

– Có thể không biết mình là ai, đang làm gì.
– Hoa mắt, chóng mặt, đi đứng lảo đảo.
– Có những cảm xúc cực đoan: rất hung hăng hoặc rất nhút nhát, có khi rất trìu mến…
– Cảm thấy buồn ngủ.
– Lời nói không mạch lạc, câu chữ líu nhíu, giọng nói lè nhè.
– Động tác rời rạc, kết hợp kém, chẳng hạn như thấy khó khăn khi chụp bắt một vật được ném tới.
– Khó cảm thấy đau đớn hơn so với người bình thường.

BAC: 0,25-0,4%

– Hầu như không thể di chuyển, đi, đứng hay trả lời kích thích nói chung.
– Lúc tỉnh, lúc mê.
-Có khi ói mửa.

BAC: 0,35-0,50%

– Bất tỉnh.
– Không còn ý thức.
– Phản ứng của cơ thể giảm mạnh, đồng tử hầu như không phản ứng với ánh sáng.
– Hơi thở chậm và yếu.
– Nhịp tim chậm dần.
– Có cảm giác lạnh (nhiệt độ cơ thể giảm xuống dưới thân nhiệt bình thường).

BAC: > 0,50%

– Nhiều nguy cơ tử vong.

Be the first to comment

Leave a Reply